Danh mục hình ảnh

Ảnh tiêu biểu

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Thông tin online

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday29
mod_vvisit_counterYesterday36
mod_vvisit_counterAll days76759

Online 2

TIỂU SỬ

DANH TƯỚNG TRẦN NGUYÊN HÃN

I- TÓM TẮT TIỂU SỬ:

Trần Nguyên Hãn là cháu của Trần Nguyên Đán, dòng dõi Thượng tướng Trần Quang Khải, anh em (con cô, con cậu) với Nguyễn Trãi.

Ông quê ở xã Sơn đông, huyện Lập Thạnh (Tam Đảo, Vĩnh Phú). Theo Bình Định Vương Lê Lợi, ông được phong chức Tư Đồ.

Năm 1425, trong cuộc kháng Minh ông đã thu được các thành: Tân Bình, Thuận Hóa, thắng quân Vương Thông ở Lư Giang, lấy được thuyền giặc hơn 100 chiếc.

Năm 1428, khi bàn công lao ông được đứng hàng đầu với chức Tả tướng quốc. Sau bị bọn Đinh Bang Bản ghét, vì thấy ông được người đương thời kính trọng và mến phục, nên mật tâu lên vua bảo rằng ông dự tự định khôi phục ngôi vua cho nhà Trần, vua Lê nghe theo lời dèm xiểm cho người đi bắt ông về tra hỏi. Thuyền chở ông về giữa đường gặp cơn gió to thì bị đắm (1429).

Ông là người đầu tiên ở nước ta đã dùng chim bồ câu để đưa tin khi bị quân Minh vây khốn, nhờ đó Bình Định Vương biết tình hình bên địch mà chuyển bại thành thắng.

Hiện nay, tại Thành phố Hồ Chí Minh trong công viên Quách Thị Trang (đối diện chợ Bến Thành) có bức tượng Trần Nguyên Hãn có con chim bồ câu trên tay.

II- THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP:

Khi Hồ Quí Ly lên cướp ngôi nhà Trần ông đã thẳng tay sát hại hàng loạt con cháu nhà Trần. Trước họa tru di huyết thống, bà Lê Thị Hoàn – con dâu quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán – đã chạy lên trang Sơn Đông (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú) để lánh nạn. Trong lúc gia đình tan nát, cuộc sống lâm vào cảnh đói nghèo bà đã sinh ra Trần Nguyên Hãn. Đứa con sinh ra không phụ lòng kỳ vọng của người mẹ. Trần Nguyên Hãn càng lớn càng tỏ ra có chí lớn, tư chất lại thông minh xuất chúng. Người bước vào tuổi thành niên cũng là lúc giặc Minh đem 80 vạn quân sang nước ta mượn cớ diệt nhà Hồ để khôi phục nhà Trần thực hiện mưu đồ cướp nước, gây ra bao cảnh nhiễu thương mà sau này chúng ta còn rùng mình khi đọc lại cáo Bình Ngô “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”. Ông đã nung nấu trong lòng hoài bảo cứu lấy quê hương. Nhân thấy con đã lớn, Bà Lê Thị Hoàn trao lại cho con thanh gươm báu của dòng họ Đông A. Thanh kiếm này ngày xưa Trần Quang Khải – cụ tổ 7 đời của gia tộc – đã từng giết giặc Nguyên, đem lại cảnh thái bình cho đất nước. Trao nó cho con, bà chỉ dặn:

“Con hãy mài nó cho thêm sắc và dùng vào việc đại nghĩa”.

Trần Nguyên Hãn đã hiểu ý tình của mẹ.

Từ đó, với đòn tre che thanh kiếm báu, người quãy gánh dầu trên vai, giả dạng làm dân buôn lần về thành Đông Quan (Hà Nội) để tìm gặp Nguyễn Trãi – anh em con cô con cậu với Trần Nguyên Hãn – và liên kết với các quí tộc nhà Trần để bàn kế lấy lại nước. Nhưng chuyến đi đã không thành, bởi vì Nguyễn Trãi đã bị Thương Phụ bắt, còn các quí tộc nhà Trần, kẻ thì đầu hàng giặc, người lui về ẩn náu. Chỉ có Giản Định Đế Trần Ngôi và Trùng Quang Đế Trần Quí Khoáng là dựng cờ khởi nghĩa. Trần Nguyên Hãn đã sớm nhận ra rằng lòng người không còn hướng về nhà Trần nữa và ông cũng không thể gởi chí lớn dưới ngọn cờ của nhà Trần được. Một buổi chiều buồn, người tráng sĩ trên con đường vạn dặm trở về, bụi đường còn bám đỏ gót chân, người đã bàng hoàng nghe tin sét đánh: Mẹ mình đã bị giặc Ngô mổ bụng rồi đem thiêu cháy. Bà đã nguyền rủa giặc cho đến lúc tàn hơi. Nuốt nước mắt vào tim, Trần Nguyên Hãn thề phải rửa thù.

Một thời gian sau, khắp vùng Tam Giang nhân dân đồn đãi với nhau rằng: có những người lạ mặt, rất giỏi võ, phục kích giết lính Ngô, đang đêm lẻn vào dinh, giết chết tên quan huyện. Tin dữ bay đi, làm cho giặt Ngô và và bọn tham quan theo giặt nơm nớp lo sợ. Trần Nguyên Hãn được dân chúng che chở, đêm đêm chong đèn đọc binh thư, ngày quãy gánh dầu đi khắp vùng để dò la nội tình giặc và mưu đồ việc lớn. Người đã chiêu mộ gần 200 trai tráng thành lập đội nghĩa quân ẩn trú tại Rừng Thần, ngày đêm luyện tập. Một ngày nọ, được tin Trương Phụ rút quân về nước để lo đánh thành Tam Giang. Lợi dụng trời đêm đó tối đen như mực, nghĩa quân Rừng Thần lẻn vào thành không một tiếng động, tỏa ra bao vây chung quanh. Trần Nguyên Hãn dẫn một toán nghĩa quân chọc thẳng vào giữa thành. Bị đánh bất ngờ giặc Minh chết như rạ, cuối cùng phải qui hàng. Dân chúng nghe tin thắng trận đã kéo ra hò reo mừng rỡ. Trong niềm vui họ đã xúc động rưng rưng nước mắt, sau cơn ác mộng người dân lại thấy cảnh yên lành. Từ đó, thân thế của nghĩa quân Rừng Thần ngày một lớn, họ đã làm chủ cả vùng bạch hạc.

Nguyễn Trãi lúc này đã được tự do và tìm về dưới trướng của người anh hùng áo vải đất Lam Sơn Lê Lợi, ông đã nhắn tin khuyên em mình nên gởi chí lớn nơi người minh chủ của ông. Vậy là gần đến tết năm Mậu Tuất (1418) Trần Nguyên Hãn đã đem quân về Lam Sơn tụ nghĩa. Sử sách còn ghi một chi tiết cực kỳ cảm động: Trần Nguyên Hãn trong ngày tụ hội đã dâng thanh kiếm của dòng họ mình lên Lê Lợi. Người dâng kiếm là dâng cả vận mệnh và lòng tin. Thật cao cả làm sao! Với tài đó sức đó Trần Nguyên Hãn đã không vì cái hư danh hoàng tộc mưu cầu lợi ích cá nhân; dựng bá nghiệp cho riêng mình hưởng thụ, người đã đặt vận nước lên trên hết. Lê Lợi từ lâu đã nghe tài danh tiếng họ Trần nên giao việc rèn dạy nghĩa sĩ cho Trần Nguyên Hãn. Người tướng trẻ văn võ song toàn và khiêm tốn ấy đã sớm chiếm được lòng kính trọng của Lê Lợi và quần thần lúc bấy giờ. Ngày mùng 2 tết năm Mậu Tuất, khi mùa xuân ngự trị giữa đất trời, giữa cảnh tết từng bừng Lê Lợi đã lên ngôi, tự xưng là Bình Định Vương. Trần Nguyên Hãn, con người nặng lòng yêu nước thương dân có chí lớn, có tầm nhìn xa trông rộng, giỏi binh thư thao lược được phong chức Tư Đồ đứng đầu hàng quan võ. Kể từ ngày ấy, Trần Nguyên Hãn đã hết lòng, hết sức giúp Bình Định Vương những trận đánh quyết định đều do người thân chinh đem quân đi đánh, ông còn nghĩ ra cách dùng chim bồ câu để đưa tin. Những cánh chim câu chấp chới giữa trời xanh vượt qua vòng vây trùng điệp của quân thù, nối lại thông tin bị đứt góp phần nắm được tình hình dể dàng chuyển bại thành thắng.

Tháng bảy năm Ất Tỵ (1425) Trần Nguyên Hãn cùng một số viên tướng khác dem hơn một ngàn quân, theo đường núi tiến vào Tân bình, Thuận Hóa. Khi đoàn quân vừa qua sông Bồ Chính (sông Gianh) thì gặp đại quân của giặc có tướng nói rằng: Trước mặt là giặt, sau lưng là sông, binh thư kỵ việc bày trận, nên gấp rút qua sông. Nhưng Trần Nguyên Hãn đã ra lệnh tìm thế núi để mai phục, bố trí voi chiến ở sau cùng. Còn ông thì khiêu chiến vờ đánh rồi bỏ chạy. Quân Minh ỷ mạnh, lập tức bám theo sa vào phục binh, chỉ phút chốc hơn một ngàn tên giặc đã bỏ mạng. Chiến thắng đó, đã khiến cho nghĩa quân ngày một lên cao, lại có tướng giỏi chỉ huy, nên chỉ ít ngày sau Tân Bình, Thuận Hóa đã thu phục được. Trần Nguyên Hãn ra lệnh mở kho lương của giặc cứu đói dân chúng. Hâm mộ tài đức của ông, hai vạn trai tráng đã kéo đến đầu quân đông vui như trẩy hội. Ngay sau chiến thắng đó, Trần Nguyên Hãn đã được lệnh đem quân về tham dự trận đánh thành Đông Quan, chặn viện binh của Vương Thông. Khi Lê Lợi dời Đại bản danh từ Lỗ Giang ra Đông Phụ Liệt, Trần Nguyên Hãn thống lỉnh các lực lượng thủy binh, đánh mũi phía Đông, Lê Lợi đánh mũi phía Tây, hai cánh quân phối hợp đang đếm đánh thốc vào Đông quan, buộc Vương Thông phải chui vào thành cố thủ. Sau đó, nhận thấy đánh Đông Quan ngày ấy là thất sức, theo mưu kế của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho đánh thành Xương Giang. Một lần nữa Trần Nguyên Hãn lại vâng lệnh Lê Lợi xông pha vào tên đạn. Tháng sáu năm Đinh Mùi (1427) Trần Nguyên Hãn đem quân áp sát thành Xương Giang. Sau khi xem xét địa thế Trần Nguyên Hãn đã quyết định áp dụng một chiến thuật vô cùng táo bạo: một mặt cho dân đào đường hầm, một mặt dùng thang leo, cùng một lúc đột nhập 4 mặt thành. Hoảng hốt trước thế đánh vũ bảo và thần tốc của nghĩa quân, giặc nhanh chóng bị tiêu diệt. Các tướng giặc đều bị bắt sống hoặc bị giết trong đám loạn quân. Kể từ chiến thắng đó Lê Lợi đã xưng tặng Trần Nguyên Hãn là Đại Tư Đồ.

Ngày 20/9 năm Đinh Mùi trận đánh quyết định đã diễn ra từ Ải Chi Lăng và kéo dài về Xương Giang. Trong trận này Trần Nguyên Hãn và Lê Sát đã chém chết Liễu Thăng ở núi Mã Yên. Chỉ sau 25 ngày dưới sự chỉ huy của Trần Nguyên Hãn, nghĩa quân Lam Sơn đã đánh bại mười vạn quân hùng tướng mạnh của nhà Minh. Trong những chiến công ấy Trần Nguyên Hãn nổi lên như vì sao sáng.

Ngày 21/11 năm Đinh Mùi, bọn Vương Thông đã mở cửa năm thành Đông Quan xin hòa và rút quân về nước. Vậy là sau hơn 10 năm ròng rã chiến đấu nghĩa quân Lam Sơn đã mang lại thanh bình cho đất nước. Trong những ngày cùng ngồi lạiđể bình công truy tặng, với những trận đánh thần tốc bách chiến bách thắng với tài cầm quân xuất quỹ nhập thần, với những ngày vào sinh ra tử Trần Nguyên Hãn được Lê Lợi phong là đệ nhất công thần, giữ chức Tả Tướng Quốc. Danh xưng đó thật là xứng đáng với người dũng tướng.

Thế nhưng mừng vui chưa được bao lấu thì họa lớn đã xảy ra. Ghen ghét với Trần Nguyên Hãn vì ông được người đương thời mến phục và kính trọng, bọn Đinh Bang Bản đã xàm tấu lên vua là ông có dự tâm khôi phục nhà Trần, âm mưu khởi loạn. Đau đớn làm sao, một Lê Lợi sáng suốt trong những ngày lãnh đạo nghĩa quân giờ không còn nữa. Lê Lợi đã quên đi cái ngày nhận thanh gươm báu từ tay Trần Nguyên Hãn, còn chăng đó là vị vua đa nghi, quyết tâm bảo vệ vương quyền. Lê Lợi nghe lời dèm xiểm, tháng 2/1429 vua cho người bắt ông về tra hỏi. Thuyền chở ông về giữa đường, đến bến đò Thượng Đông (Sơn Tây) gặp sóng gió to thì bị đắm, Trần nguyên Hãn và 42 lực sĩ đều bị chết đuối. Nhưng có truyền thuyết nói rằng Trần Nguyên Hãn trầm mình tự ải, mượn dòng nước kết liễu đời mình để tỏ lòng ngay.

III- BÀI HỌC:

Trần Nguyên Hãn mất đi, nhà Lê mất một tướng tài, đất nước mất một người con kiên cường và trung hiếu, một người dũng tướng tài ba. Trần Nguyên Hãn chết trong uất hận nhưng lịch sử đã công bằng khi ghi lại tên người bằng nét son chói lọi. Đọc xong tiểu sử của Trần Nguyên Hãn chúng ta sẽ còn đọng lại gì? Đó là hình ảnh của một con người sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng, có kiến thức uyên thâm, có tấm lòng trung hậu, đồng cảm với những nổi khổ đau của người dân, đặt lợi ích của người dân lên trên lợi ích cá nhân, luôn đi đầu trong mọi gian nguy, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước thoát khỏi xích xiềng xâm lược của ngoại bang. Đó là một tấm gương sáng mà mỗi người chúng ta phải noi theo.

Dù sinh ra và chết đi trong sự đau khổ nhưng Trần Nguyên Hãn đã sống một cuộc đời đáng sống. Bức tượng người với con chim bồ câu trong tay đặt nơi trung tâm một thành phố lớn nhất Miền nam đã nói lên tấm lòng của hậu thế với Trần Nguyên hãn. Nó đã là một hình ảnh đẹp và sẽ mãi mãi là một hình ảnh đẹp từ bây giờ cho đến mai sau.

Được vinh dự mang tên người, tập thể Trường Trần Nguyên Hãn sẽ tiếp bước người vươn cao ngọn cờ xây dựng tương lai.

Năm 1994 – Trường đã tìm được ngày mất

danh tướng Trần Nguyên Hãn 18/02/1929 (Âm lịch)